Chuyện về nông dân ứng phó với biến đổi khí hậu ở Tây Bắc

     Người nông dân tại các tình vùng cao Tây Bắc đã tìm ra nhiều cách để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu nhờ vào cách trồng cây ăn quả theo mô hình nông lâm kết hợp, ủ phân từ chất thải chăn nuôi và phế phẩm nông nghiệp để bón cho cây trồng đến việc canh tác lúa nước theo phương pháp cải tiến SRI. 

Biến đổi khí hậu ngày một nặng nề hơn

     Đứng trước những tác động nặng nề từ biến đổi khí hậu (BĐKH), Việt Nam nói chung và khu vực Tây Bắc nói riêng đã chứng kiến nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan trong những năm qua. Sản xuất nông nghiệp, một trong những lĩnh vực chịu ảnh hưởng mạnh nhất của BĐKH, ngày càng trở nên bấp bênh, nhiều rủi ro hơn. Chính vì vậy, làm nông như thế nào để có thể ứng phó được với BĐKH là vấn đề không chỉ được Nhà nước đặt ra mà đã được các tổ chức triển khai.

     Tại Dự án Tăng cường tiếng nói và năng lực của các nhóm nông dân người dân tộc dễ bị tổn thương đối với BĐKH ở Tây Bắc Việt Nam (VOF) Được triển khai trong giai đoạn 2019-2022, Dự án VOF hướng tới hỗ trợ đồng bào người dân tộc tăng cường khả năng phục hồi trước tác động của BĐKH tại vùng Tây Bắc Việt Nam thông qua việc thúc đẩy nông nghiệp thông minh, ứng phó với biến đổi khí hậu và sự tham gia của người dân vào quá trình ra quyết định. Dự án do Hiệp hội Tổ chức Xã hội Dân sự Đan Mạch (CISU) tài trợ, thông qua Tổ chức Phát triển Nông nghiệp Đan Mạch Châu Á (ADDA) và do PanNature điều phối các hoạt động, phối hợp thực hiện cùng với Hội nông dân tỉnh Sơn La và Lai Châu. Trọng tâm của dự án là mô hình Làng nông nghiệp ứng phó với BĐKH.

     Chị Hà Thị Bông, trưởng nhóm Nông dân ứng phó BĐKH bản Nà Khái (xã Sặp Vạt, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La) chia sẻ: Trung tâm của mỗi Làng Nông nghiệp ứng phó BĐKH – Dự án VOF là một nhóm nông dân nòng cốt do chính dân làng bầu ra. Với chị Bông và các anh chị em khác trong nhóm, việc tham gia Dự án không chỉ đơn thuần để tự cải thiện kỹ thuật canh tác và chăn nuôi để ứng phó tốt hơn với BĐKH. Họ đã áp dụng các kỹ năng được trang bị để trở thành một lớp “tuyên truyền viên” tích cực và bền bỉ để thúc đẩy cộng đồng xung quanh áp dụng các thực hành nông nghiệp bền vững.

     Thông qua các lớp tập huấn cung cấp kiến thức và nâng cao nhận thức, người dân tham gia dự án VOF đã giúp cộng đồng người nông dân hiểu được BĐKH và ô nhiễm môi trường có thể bắt nguồn từ chính tập quán canh tác nông nghiệp mà họ đã và đang duy trì. Từ đó người nông dân có thêm động lực chủ động thay đổi phương thức sản xuất, hướng tới nông nghiệp thông minh ứng phó với BĐKH.

     “Khi họp nhóm thì mình đều yêu cầu các thành viên cũng phải tuyên truyền đến các hộ trong bản. Cũng như qua các đợt sinh hoạt bản, sinh hoạt đoàn thể, hay cả khi ngồi ngoài chợ, nếu người ta hỏi thăm về hoạt động và mô hình của mình thì các thành viên cũng rất là nhiệt tình để trao đổi”, chị Bông nói.

Nông dân chung tay ứng phó biến đổi khí hậu

     Chỉ sau hơn một năm học tập để chuyển đổi sang kỹ thuật SRI, từ 5 ha đầu tiên, các nông dân trong Nhóm không chỉ thu về năng suất cao, chất lượng hạt tốt mà còn làm giảm đáng kể các tác động tiêu cực tới môi trường. Kết quả khả quan từ mô hình của Nhóm đã thu hút nhiều nông dân khác trong bản cùng tham gia, nâng tổng diện tích lúa nếp tan áp dụng phương pháp mới lên 30 ha và số lượng thành viên Nhóm lên 38 hộ gia đình từ năm 2021. Nhóm cũng thành công ký kết hợp tác cùng Công ty TNHH MTV Giống Vật tư Nông nghiệp Tây Bắc để thúc đẩy sản phẩm tiếp cận thị trường.

     Ông Vàng Văn Chẻo, trưởng nhóm Nông dân ứng phó BĐKH tại bản Hợp 1 (xã Bản Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu) chia sẻ: Mấy năm trước, một sào hết hẳn 5 cân giống mà thu hoạch về không được nhiều, nó lại tốn công cấy. Giờ cấy theo phương pháp mới, chỉ mất 3 cân giống là được một sào (1.000m2). Thế là vừa ít mất giống, lại ít mất công.

     Chủ yếu là cấy được nhanh hơn. Như ruộng nhà tôi trước đây, 29, 30 người cấy một ngày ko xong. Ba năm nay cấy theo phương pháp SRI này là tôi chỉ cần 10 người cấy trong một buổi. Mình cấy thưa thì làm cỏ cũng dễ, cây lúa cũng đẹp, bông to, hạt to và năng suất hơn. Nói chung là từ khi tham gia mô hình, bà con được nhiều cái lợi. Ruộng lúa phát triển, bà con cũng đủ ăn, hàng năm ko phải đói nữa, và lại lợi cho cả bản vì không ô nhiễm môi trường.

     Để nông sản chất lượng do người dân tạo ra có thể tiếp cận tới khách hàng tiềm năng, Dự án VOF đặc biệt quan tâm đến việc thúc đẩy mối liên kết giữa Nhóm nông dân tại mỗi thôn bản và các hợp tác xã, doanh nghiệp tiêu thụ nông sản. Bằng việc cam kết hợp tác cùng hợp tác xã, người nông dân trồng xoài như chị Giang có thể tìm kiếm thị trường tiêu thụ ngay từ khi cây trồng còn chưa ra sản phẩm. Nhờ những tín hiệu thị trường do hợp tác xã hoặc doanh nghiệp lắng nghe và phản hồi lại, chị và người dân quanh mình có thể chủ động về số lượng, chất lượng sản phẩm theo đúng yêu cầu thị trường mà không phải sản xuất tràn lan hoặc manh mún, nhỏ lẻ, thiếu định hướng như trước.

     Chị Quàng Thị Giang, Thành viên Nhóm Nông dân ứng phó BĐKH bản Nà Khái (xã Sặp Vạt, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La) chia sẻ. Quả xoài nó không được đẹp, không được như ý thì bán không được giá. Từ khi vào hợp tác xã, mình biết quy trình chăm sóc thì nó khác hẳn. Quả đẹp, họ lại bao tiêu sản phẩm cho mình mà giá cả không bấp bênh, được giá hơn”.

     Trở thành thành viên của các Nhóm Nông dân ứng phó BĐKH, người nông dân tại Lai Châu và Sơn La không chỉ học tập các kiến thức để sản xuất nông nghiệp có thể thích ứng và giảm thiểu các tác động tiêu cực của BĐKH. Họ còn tham gia nhiều hoạt động nâng cao năng lực khác như tập huấn tiếp cận thị trường, tập huấn truyền thông,… Nhờ trau dồi các kỹ năng như thuyết trình, sử dụng internet, mạng xã hội, chụp ảnh, quay phim bằng điện thoại thông minh,… người nông dân đã trở nên tự tin hơn để mang sản phẩm của mình quảng bá tới mọi miền tổ quốc.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *