Tìm hiểu về đặc điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long và 3 vụ lúa chính trong năm

        Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong hai vựa lúa lớn nhất của cả nước. Tại vùng đồng bằng Nam bộ, canh tác lúa sẽ chia làm 3 vụ: vụ mùa, vụ đông xuân và vụ hè thu. Trong bài viết này chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về đặc điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long và 3 vụ lúa chính trong năm.

Đặc điểm của vùng đồng bằng sông Cửu Long

Thuận lợi về địa hình

  • Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích toàn châu thổ là 36.000 km2 với diện tích đã trồng lúa là 1,5 – 1,6 triệu ha trên khoảng 2,1 triệu ha có thể trồng trọt được.
  • Địa hình ở đồng bằng sông Cửu Long tương đối bằng phẳng, độ dốc chỉ 1cm/ km. Hai nhánh sông Cửu Long là sông Tiền và sông Hậu dài hơn 120km, cung cấp lượng phù sa chính cho vùng đồng bằng này. 
  • Các chủng loại đất tại đồng bằng sông Cửu Long rất phong phú và có hàm lượng dinh dưỡng cao.
  • Đất phù sa là 1.800.00 ha do sông Tiền và sông Hậu cung cấp chính.
  • Đất phèn 1.100.000 ha với độ PH thấp, do ảnh hưởng chủ yếu của sun phát sắt và sun phát nhôm.
  • Vùng đất mặn (rừng U Minh) 320.000 ha có nhiều chất hữu cơ.

Thuận lợi về khí hậu

  • Khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long là khí hậu nhiệt đới gió mùa, rất thích hợp cho việc canh tác nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa nước. Tại miền Nam không có mùa đông lạnh giá, lúc nào cũng nhiều ánh sáng thuận lợi cho cây lúa phát triển. Mùa khô tại đồng bằng sông Cửu Long thường khô hơn. 
  • Lượng mưa hàng năm từ 1500 – 2000mm, độ ẩm không khí bình quân 82%. 

3 vụ lúa chính tại đồng bằng sông Cửu Long và đặc điểm của từng vụ

        Đồng bằng sông Cửu Long hiện có 3 vụ lúa chính là:

Vụ mùa

        Vụ mùa thường gieo trồng vào đầu mùa mưa (tháng 5, tháng 6) và thu hoạch vào cuối mùa mưa (tháng 11). Vụ này thích hợp trồng các giống lúa địa phương dài ngày, thích nghi với nước sâu. 

        Các giống lúa thường được sử dụng trong vụ mùa tiêu biểu như VND404, VND95-19, Nàng thơm chợ đào 5, Nàng Hương 2, MTL250,MTL392, MTL449,…

Vụ đông xuân

        Thời điểm gieo trồng vụ đông xuân là sau khi vụ mùa kết thúc, thường vào cuối mùa mưa (tháng 11, tháng 12) và thu hoạch vào đầu tháng 4. Đây là vụ lúa mới, ngắn ngày. 

        Những giống lúa chủ lực trong vụ này là: OM 6162, OMCS 2000, OM 5472, OM 6677 và OM 4218, ngoài ra còn có OM 5451, OM 8232, OM 4101, OM 3995,…

Vụ hè thu

        Vụ hè thu bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 8. Đây là vụ lúa mới, ngắn ngày, có diện tích canh tác khoảng 1,1 triệu ha. Vụ lúa này thích hợp gieo trồng các giống lúa như OMCS 2000, OMCS21, ND404, VND 95-19, MTL250, MTL392, MTL449,…

Kỹ thuật chăm sóc lúa trong 3 vụ chính

        Một chu kỳ sống của cây lúa sẽ trải qua 3 thời kỳ: sinh trưởng sinh dưỡng, sinh trưởng sinh thực và thời kỳ lúa chín. 

Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng

        Thời kỳ này bắt đầu từ lúc lúa được gieo xuống đất đến khi đẻ nhánh và phát triển lóng, thân, lá. Người nông dân cần phải chăm sóc với chế độ thích hợp tạo điều kiện để lúa phát triển tối đa, cho số nhánh hữu hiệu cao, to và khỏe.

        Giai đoạn này lúa hay mắc các bệnh hại như sâu đục thân, sâu cuốn lá,… phá hoại nhánh và lá lúa, ngăn chặn quá trình sinh trưởng, quang hợp. Vì vậy, cần phải có biện pháp phòng trừ sâu bệnh hợp lý, đúng lúc, kịp thời.

        Đồng thời, để lúa cho năng suất cao nhất, cần bón phân và giữ cho chế độ nước tưới phù hợp. Nếu là vào vụ mùa, mưa nhiều có thể khiến cho lúa ngập úng, cần xử lý thoát nước kịp thời. Còn vào vụ đông xuân và vụ hè thu, cần duy trì lượng nước trong ruộng vừa ngập gốc để hòa tan phân bón và tạo độ ẩm thích hợp cho lúa đẻ nhánh.

Trong thời kỳ sinh trưởng sinh thực

        Thời kỳ này kéo dài từ lúc lúa phân hóa mầm hoa đến khi trổ bông và thụ tinh. Chăm sóc tốt cho cây lúa ở thời kỳ này sẽ giúp tạo ra số lượng hoa và bông hữu hiệu đều, dòng và bông to, khỏe, lúa trổ đều, tỉ lệ thụ phấn, thụ tinh cao.

        Đối với thời kỳ này, cần:

  • Bón phân cân đối và hợp lý, đúng lúc để cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng, tạo điều kiện cho lúa nuôi đòng.
  • Luôn duy trì mức nước trong ruộng vừa phải, giữ ẩm cho ruộng lúa.
  • Theo dõi sát sao để phát hiện và phòng bệnh cho lúa kịp thời.

Thời kỳ lúa chín

        Đây là thời kỳ quyết định chất lượng của hạt lúa, bắt đầu từ lúc lúa chín sữa đến khi chính hoàn toàn. Lúa có nhiều hạt lép hay không, trọng lượng hạt như thế nào phụ thuộc vào cách chăm sóc của bà con tại thời điểm này. 

        Chế độ chăm sóc trong thời kỳ lúa chín:

  • Nên bón những loại phân bón có hàm lượng kali cao để bổ sung dinh dưỡng, tạo điều kiện cho lúa tích lũy chất, cho ra những hạt lúa to, mẩy.
  • Giữ mực nước vừa phải, giữ ruộng luôn đủ ẩm, không để khô hạn, nhất là vào vụ đông xuân khi trời mưa ít.
  • Kiểm tra thường xuyên tình hình sâu bệnh để tiêu diệt kịp thời.
  • Khi lúa chín vàng đến 90% là có thể tiến hành thu hoạch. Trước khi thu hoạch 10 – 12 ngày thì rút nước để việc thu hoạch dễ dàng hơn.

        Trồng lúa là một nghề truyền thống của dân tộc Việt Nam từ rất xa xưa. Nó không chỉ đem lại nguồn thu nhập chính cho người dân, mà còn đưa Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu lúa gạo hàng đầu thế giới. Với ba vụ lúa chính mỗi năm, sản lượng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long chiếm hơn 50% và lượng gạo xuất khẩu chiếm hơn 90% của cả nước, trở thành một niềm tự hào của người dân vùng Nam Bộ.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *