Quy trình thực hành tốt trong chăn nuôi (VietGAHP) và những vấn đề đặt ra trong hội nhập

 Xu hướng về sử dụng thực phẩm an toàn

Hiện nay, an toàn thực phẩm là vấn đề được mọi quốc gia quan tâm, xuất phát từ nhu cầu của mọi người tiêu dùng ngày càng cao về chất lượng sản phẩm chăn nuôi, đã dẫn đến sức ép về tiêu chuẩn hàng hóa đối với các siêu thị, các nhà cung cấp thực phẩm. Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), thực phẩm xếp vào loại “không an toàn” bao gồm cả thịt cha nấu chín hoặc quy trình sản xuất không an toàn. Những loại thực phẩm chưa chín sẽ chưa vi khuẩn, có thể gây ra 200 vấn đề về sức khỏe khác nhau từ bệnh tiêu chảy đến bệnh mãn tính, ung thư… Thực phẩm không an toàn tạo ra một vòng luẩn quẩn của bệnh tật và suy dinh dưỡng, đặc biệt là ảnh hưởng đến trẻ em và người già. Tại Việt Nam, theo Cục An toàn thực phẩm ( Bộ y tế), trong năm 2014 vừa qua có 194 vụ ngộ độc thực phẩm được báo cáo, với hơn 5.000 người bị ngộ độc , 80% trong số này phải nhập viện, 43 trường hợp bị tử vong do thwucj phẩm không an toàn.

Đứng trước “hiểm họa toàn cầu” về thực phẩm không an toàn, người tiêu dùng không còn cách nào khác là phải tìm cách bảo vệ mình. Người sử dụng thực phẩm tìm đến những sản phẩm rõ nguồn gốc, được sản xuất theo “quy trình sạch”. Khái niệm GAP (Good Agricultural Practices) – thực hành sản xuất tốt trong nông nghiệp nói chung hoặc GAHP( Good Animai Husbandry Practices) thực hành sản xuất trong chăn nuôi nói riêng, đã phát triển vào những năm gần đây trong bối cảnh thay đổi và toàn cầu hóa nhanh chóng của ngành công nghiệp thực phẩm và là kết quả của mối quan tâm, cam kết của những người quản lý sản xuất thực phẩm, an ninh lương thực, chất lượng và an toàn thwucj phẩm , sự bền vững về môi trường, kinh tế- xã hội đối với  sản xuất chăn nuôi và các quá trình sau chăn nuôi tạo ra các sản phẩm chăn nuôi an toàn.

           Cam kết chung về tiêu chuẩn sản phẩm chăn nuôi an toàn.

Đồng thời, với mục tiêu là an toàn thực phẩm, các quốc gia, lãnh thổ, khu vực sẽ phải đưa ra cam kết thực hiện hệ thống tiêu chuẩn chung về sản phẩm chăn nuôi đề có thể nhận diện đối với quốc tế và phân biệt với các tiêu chuẩn thực hành sản tốt khác trên thế giới.

Nếu không phát triển chăn nuôi theo hướng an toàn thực phẩm, các quốc gia sẽ không thể xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi, và thậm chí đánh mất cả thị trường tiêu thụ nội địa do sự xâm nhập của sản phẩm các nước có nền chăn nuôi với năng suất chất lượng cao, an toàn vệ sinh thực phẩm và giá bán thấp hơn.

           Tình hình triển khai GAP trên thế giới

Hiện nay, trên thế giới đang tồn tại những quy trình khác nhau cho việc thực hiện thực hành nông nghiệp tốt. Được áp dụng rộng khắp trên thế giới là GlobalGAP, tiếp đó là GAP cho các vùng lãnh thổ ( Asean- GAP; UK-GAP, Guide-GAP) và GAP riêng của các nước (JGAP-Nhật Bản, NZGAP-New Zeland, ChinaGAP- Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam,…)

GlobalGAP được chuyển từ EurepGAP sang vào ngày 07/9/2007. Sau nhiều phiên bản cập nhật, hiện nay GlobalGAP có nhiều quy trình áp dụng thực hành tốt trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản.

Sơ đồ và sự liên quan giữa các lĩnh vực tiêu chuẩn GlobalGAP như sau:

AseanGAP do ban thư ký của tổ chức ASEAN xây dựng (với đại diện các nước thành viên) và được đưa ra từ năm 2006. Nó là một bộ tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt trong cả quá trình sản xuất, thu hoạch đối với rau quả tươi, thịt, trứng, sữa ở khu vực ASEAN . Mục tiêu của AseanGAP là tăng cường hài hòa các chương trình GAP quốc gia của các nước thành viên ASEAN trong khu vực, đề cao sản phẩm rau quả, thịt, trứng, sữa an toàn cho người tiêu dùng, duy trì các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thúc đẩy thương mại sản phẩm nông nghiệp trong khu vực và quốc tế.

AseanGAP bao gồm 4 phần chính: An toàn thực phẩm; Quản lý môi trường; Sức khỏe, an toàn lao động và phúc lợi cho người làm việc; Chất lượng sản phẩm.

                   Tình hình triển khai GAP tại Việt Nam

Từ nền tảng EUROPGAP, GlobalGAP và GAP của một số nước châu Á khác, VietGAP đã thừa hưởng được kinh nghiệm của nhiều GAP đi trước nên đã nhanh chóng được Bộ trưởng Bộ Nồng nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành quy trình, quy định về thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) và thực hành sản xuất chăn nuôi tốt ( VietGAHP), từ những năm 2008.

                  Đối với chăn nuôi trang trại, có 4 quy trình VietGAHP:

–  Quy trình thực hành chăn nuôi tốt cho chăn nuôi lợn an toàn tại Việt Nam” theo Quyết định số 1506/QĐ-BNN- KHCN ngày 15/5/2008.

–    Quy trình thực hành chăn nuôi tốt cho chăn nuôi gia cầm an toàn tại Việt Nam” theo Quyết định số 1504/QĐ-BNN- KHCN ngày 15/5/2008.

–    Quy trình thực hành chăn nuôi tốt cho chăn nuôi bò sữa an toàn tại Việt Nam” theo Quyết định số 1579/QĐ-BNN- KHCN ngày 26/5/2008.

–    Quy trình thực hành chăn nuôi tốt cho chăn nuôi ong an toàn tại Việt Nam” theo Quyết định số 1580/QĐ-BNN- KHCN ngày 26/5/2008.

Cục chăn nuôi đã triển khai rà soát và xây dựng dự thảo các quy trình VietGAP đảm bảo chính xác, có tính khả thi và đáp ứng tiêu chí hội nhập. Đã trình Bộ trưởng tờ trình số 07/TTr-CN-GSN ngày 03/02/2015 về sửa đổi, bổ sung và ban hành VietGAHP trong chăn nuôi. Thực hiện chỉ đạo của Bộ trưởng, Cục Chăn nuôi đang phối hợp với Vụ Khoa học Công Nghệ và Môi trường thống nhất, hoàn thiện trình Bộ trưởng ký ban hành.

Tính đến nay, Việt Nam có 13 tổ chức chứng nhận VietGAP trong lĩnh vực chăn nuôi được Cục chăn nuôi chỉ đinh theo quy định tại Thông tư số 48/2012/TT-BNNPTNT ngày 26 tháng 9 năm 2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát Triển nông thôn quy định về chứng nhận sản phẩm thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi, được sản xuất, sơ chế phù hợp với Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt.

Số trang trại được chứng nhận, tính đến tháng 8/2015, cả nước có hơn 186 cơ sở chăn nuôi áp dụng VietGAHP (trang trại) được cấp chứng nhận. Trong đó, 25 cơ sở nuôi lợn thịt ( tổng quy mô trên 22,755 triệu con/lứa), 3 cơ sở nuôi bò sữa ( quy mô 6.220 con/lứa) và 121 cơ sở nuôi ong mật (quy moo106,450 đàn).

Tỷ lệ gia súc, gia cầm nuôi theo quy trình VietGAHP chiếm tỷ lệ thấp so với tổng đàn và mới chỉ tập trung tại một số vùng chăn nuôi trọng điểm, cụ thể:

Số lượng được nuôi theo VietGAHP mới chiếm tỷ lệ 1% trong tổng đàn lợn của cả nước và chỉ tập trung vào một số đại phương như Thành phố Hồ Chí Minh, Vĩnh Long, Vĩnh Phúc, Nam Định.

Đối với gà thịt, gà nuôi theo VietGAHP chiếm khoảng 10% tổng đàn, tập trung tại các địa phương như Đồng Nai, Bình Dương, Hà Nội, Bắc Giang, Hải Dương, Vĩnh Phúc.

Đối với bò sữa, chỉ có ba cơ sở áp dụng và có chứng nhận VietGAHP nhưng tỷ lệ chiếm khoảng trên 2% trên tổng đàn bò sữa. Đó là Công ty cổ phần thực phẩm sữa TH( TH tru milk – Nghệ An ); HTX dịch vụ chăn nuôi bò sữa Đồng Tiến ( Quỳnh Lưu, Nghệ An) và Công ty cổ phần giống bò sữa Mộc Châu.

Riêng Trang trại bò sữa Vinamilk Nghệ An đã áp dụng và được chứng nhận GlobalGAP, đạt giấy chứng nhận chuẩn quốc tế.

Đối với ong mật, khoảng 10% tổng đàn được chứng nhận VietGAHP ong, tập trung chủ yếu tại Đắk Lắk .

               Đối với chăn nuôi nông hộ, có hai quy trình VietGAHP nông hộ:

– Quy trình thực hành chăn nuôi tốt cho chăn nuôi lợn an toàn trong nông hộ ” theo Quyết định số 1947/QĐ-BNN- KHCN ngày 23/8/2011.

–  Quy trình thực hành chăn nuôi tốt cho chăn nuôi gà an toàn trong nông hộ ” theo Quyết định số 1948/QĐ-BNN- KHCN ngày 23/8/2011.

Kết quả triển khai áp dụng GAHP nông hộ đã thành công tốt đẹp và mang lại lợi ích kinh tế, xã hội trên địa bàn 12 tỉnh/thành gồm: Cao Bằng, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Lâm Đồng, Đồng Nai, Long An và Thành phố Hồ Chí Minh.

Cho đến nay, 12 ban quản lý dự án địa phương đã tiến hành điều tra khảo sát, lựa chọn được 52 vùng GAHP, trong đó 46 vùng GAHP đã được Ban quản lý Trung Ương và Ngân hàng Thế giới chấp thuận ( các vùng GAHP này được thiết lập trên phạm vi 45 huyện với 173 xã) với tổng số hộ chăn nuôi tham gia vào nhóm GAHP là 11.201 hộ đạt 117,91 % so với mục tiêu 9.500 hộ mà dự án đã đặt ra vào năm 2014.

Tỷ lệ hao hụt của đàn lợn trong các hộ GAHP đã giảm có ý nghĩa từ 13,75% xuống còn 11,80% (bình quân cho toàn 12 tỉnh dự án). Đặc biệt trong tất cả các vùng GAHP đã không xảy ra bất kỳ một dịch bệnh nào.

Thời gian nuôi vỗ béo lợn thịt trung bình của các tỉnh đã giảm khá rõ, từ 135 ngày nuôi cho các lứa lợn trước đây đã giảm xuống còn 118 ngày và từ 66 ngày nuôi giảm xuống còn 58 ngày cho nuôi gà khi áp dụng quy trình GAHP.

Chăn nuôi GAHP nông hộ đang được duy trì và ổn định. Các hộ chăn nuôi đã ý thức được tầm quan trọng của GAHP, đối với chăn nuôi coi đây là mô hình chăn nuôi ít rủi ro nhất. Hiện tại, theo thống kê của dự án thì ngoài 12 tỉnh dự án áp dụng GAHP, đã có thêm khoảng 20 tỉnh khác đang học tập kinh nghiệm và áp dụng mô hình GAHP nông hộ trong chăn nuôi.

               Tình hình tiêu thụ sản phẩm VietGAHP trong nước

Về thị trường tiêu thụ trong nước, nhu cầu thực phẩm an toàn ngày càng cao trrong thời gian gần dây, tuy nhiên, thời gian qua sản phẩm chăn nuôi theo hướng VietGAHP chưa nhiều, có lúc thiếu nguồn cung nên dẫn đến một số nhà phân phối sản phẩm đã lập lờ trong bán hàng làm cho người tiêu dùng nghi ngại, không phân biệt được sản phẩm GAHP hoặc không GAHP, từ đó dẫn đến việc sản phẩm VietGAHP khó cạnh tranh với sản phẩm thông thường. Nhiều sản phẩm VietGAHP đã bán tương đương với giá bán sản phẩm thông thường nên không khuyến khích được nhà sản xuất duy trì và phát triển theo VietGAHP.

Đối với thị trường nước ngoài, nhà nhập khẩu yêu cầu các sản phẩm nông sản nói chung và thịt chứng sữa nói riêng cần có sự kiểm soát chặt chẽ quá trình sản xuất, các thông tin về sản phẩm chăn nuôi cần rõ ràng từ khâu nuôi dưỡng, chăm sóc, kiểm soát dịch bệnh vfa giết mổ, chế biến…Để đáp ứng được nhu cầu này, người chăn nuôi cần áp dụng VietGAHP trong sản xuất. Tuy nhiên, để xuất khẩu được cần có sự vào cuộc của các địa phương nhằm xây dựng được vùng an toàn dịch bệnh cho gia súc, gia cầm.

Một số mô hình hợp tác thương mại, kết nối cung cầu và bình ổn giá ở Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua đã minh chứng cho việc phát triển sản phẩm VietGAHP một cách bền vững, hiệu quả, mang lợi ích cho cộng đồng xã hội. Sự gắn kết các đơn vị sản xuất với nhà phân phối bằng hợp đồng kinh tế là cơ sở pháp lý cho doanh nghiệp và cơ sở chăn nuôi yên tâm, mạnh dạn đầu tư, mở rộng sản xuất theo hướng VietGAHP.

Theo Sở Công thương Thành phố Hồ Chí Minh, mỗi năm tổng lượng hàng VietGAHP được tiêu thụ tại các kênh phân phối (SaigonCoop, Vissan, Metro, Lotte, BigC, Aeon Mall, các chợ đầu mối, các bếp ăn tập thể,…) ước đạt khoảng 1.080 tấn thịt gia cầm, 8.400 ngàn quả trứng gia cầm…Trong số các đơn vị sản xuất tham gia ký kết hợp đồng như công ty Ba Huân, San Hà, HTX Bình Mình (Đồng Nai)… Các doanh nghiệp phân phối giảm chi phí tìm kiếm nguồn cung, giảm phí vận chuyển so với việc thu mua từ các tỉnh, địa phương xa từ đó giảm giá bán sản phẩm, ổn định nguồn cung.

Trong thời gian tới, hoạt động kết nối giữa người phân phối với cơ sở sản xuất theo hướng VietGAHP không chỉ đem lại lợi ích cho cả hai bên mà còn đem lại lợi cho bên thứ ba là người tiêu dùng, với nguồn gốc thực phẩm rõ ràng, chất lượng tốt, đảm bảo an toàn thực phẩm.

Những vấn đề còn tồn tại

Mặc dù lợi ích của VietGAHP là rất lớn, giúp phát triển chăn nuôi bền vững. Đồng thời, Thủ Tướng Chính phủ đã ban hành chính sách tại Quyết định số 01/2012/QĐ-TTg để phát triển và khuyến khích áp dụng VietGAP trong trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản. Tuy nhiên, VietGAHP vẫn còn nhiều tồn tại làm cản trở sự phát triển trong quá khứ và hiện tại. Trong đó có thể nêu một số tồn tại chính như:

– Các sản phẩm được chứng nhận VietGAHP chưa hẳn đã tạo sự khác biệt với những sản phẩm thông thường, có nhiều cơ sở không/ chưa chứng nhận VietGAHP nhưng người chăn nuôi thực hiện rất tốt các biện pháp được nêu trong quy trình GAHP.

– Việc sản xuất theo quy trình VietGAHP đòi hỏi yêu cầu khét khe, đảm bảo truy xuất nguồn gốc, ghi chép nhật ký từ khi chuẩn bị chuồng nuôi đến nhập giống, nhập vật tư, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, chế độ chăm sóc hàng ngày…đến khi xuất bán nên người chăn nuôi mất thêm công sức, chi phí tăng thêm từ 5-10% so với các sản phẩm thường. Tuy nhiên, khi sản phẩm ra thị trường chưa được tiểu thuwong cũng như người tiêu dùng trả giá cao do thương hiệu sản phẩm VietGAHP còn mù mờ.

– Phí đánh giá chứng nhận và những chi phí khác cho quảng bá, xây dựng thương hiệu VietGAHP đang là trở ngại cho những cơp sở chăn nuôi vì quá lớn. Những lợi ích mang lại khi áp dụng VietGAHP là rất lớn những khó “ đong đếm”, trong khi bỏ ra một lượng tiền nhất định để xây dựng thương hiệu VietGAHP lại nhìn thấy rõ rệt, điều này đã gây ra tâm lý ái ngại đối với những người chăn nuôi chưa thực sự muốn hướng tới sự bền vững.

– Việc sản xuất chăn nuôi theo VietGAHP cung cấp sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng là một điều ai cũng nhận ra, tuy nhiên, quy trình này chỉ dừng lại ở trang trại, chưa áp dụng tới giết mổ, chế biến và bảo quản, tiêu thụ. Do vậy, sản phẩm VietGAHP chưa đáp ứng được yêu cầu “ theo chuỗi” từ trang trại tới tay người tiêu dùng.

                    Yêu cầu trong thời gian tới 

Để việc áp dụng VietGAHP phát triển bền vững trong thời gian tới, Việt Nam cần có những giải pháp cơ bản như sau:

– VietGAHP cần hài hòa AseanGAHP về nội dung và cấp độ chứng nhận trong nước và khu vực. Từng bước hài hòa các tiêu chí trong VietGAHP, chuyển dần việc áp dụng VietGAHP sang áp dụng AseanGAHP.

– Các cơ sở chăn nuôi đã được chứng nhận VietGAHP sẽ được công nhận là cơ sở đảm bảo vệ sinh thú y, cơ sở an toàn dịch bệnh, cơ sở chăn nuôi phù hợp quy chuẩn .

– Để tránh tăng chi phí trong sản xuất khi áp dụng VietGAHP, đồng thời người chăn nuôi dễ áp dụng VietGAHP trong thực tiến, đòi hỏi phải sửa đổi quy trình VietGAHP cho phù hợp với điều kiện thực tế sản xuất của Việt Nam, đồng thời hướng tới áp dụng quy trình sản xuất chăn nuôi theo AseanGAHP nhằm hài hòa với các nước trong khu vực về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm chăn nuôi và hường tới xuất khẩu thịt, trứng, sữa.

– Thiết lập kênh tiêu thụ sản phẩm VietGAHP thông qua hoạt động kết nối với nhà sản xuất và doanh nghiệp phân phối sản phẩm đã và đang phát huy thế mạnh trong nước tuy nhiên trong thời gian tới cần ưu tiên hướng hiệu quả thông qua các hoạt động tham quan, trao đổi, khảo sát, nghiên cứu giữa các địa phương, đặc biệt khu vực Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Bên cạnh hệ thống phân phối hiện đại thông qua các trung tâm thương mại, các sàn giao dịch, các siêu thị…cần xúc tiến đa dạng hóa kênh phân phối và hướng đến các đối tượng tiêu thụ sản phẩm khác như bếp ăn tập thể trong trường học, bệnh viện, các khu chế xuất, nhà hàng, khách sạn….

– Có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi sản xuất, cung ứng sản phẩm VietGAHP từ trang trại đến bàn ăn. Sản phẩm VietGAHP cần có đầu mối tiêu thụ cụ thể và có khu bày bán riêng, có bảng biểu thông tin cụ thể về nguồn gốc, xuất xứ của sản phẩm.

– Các địa phương cần đẩy mạnh công tác quy hoạch vùng sản xuất an toàn, định hướng đầu ra ổn định cho các nhà phân phối sản phẩm VietGAHP. Đồng thời xúc tiến sự liên kết giữa cơ sở chăn nuôi với các siêu thị, cửa hàng thực phẩm nhằm cung ứng các sản phẩm thịt, trứng, sữa qua hệ thống phân phối riêng theo chuỗi siêu thọi, cửa hàng chuyên bán thực phẩm an toàn.

– Xây dựng chính sách tổng thể phục vụ từ khâu tổ chức sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm và phải có nguồn dòng kinh phí riêng để tổ chức thực hiện chính sách được thuận lợi.

– Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tập huấn đến người sản xuất và tiêu dùng. Làm rõ sản phẩm nào là sản phẩm GAHP và sự khác biệt của các loại sản phẩm chăn nuôi.

– Tăng cường tổ chức đào tạo, nâng cao năng lực, trình độ cán bộ quản lý và người sản xuất, kiến thức và kỹ năng kinh doanh, tiếp thị, xây dựng thương hiệu sản phẩm VietGAHP.

– Hội nhập kinh tế quốc tế bằng những sản phẩm đạt chất lượng quốc tế, xúc tiến xuất khẩu những sản phẩm được sản xuất, giết mổ và chế biến theo quy trình an toàn thực phẩm.

Thay lời kết

Áp dụng VietGAHP trong chăn nuôi là sự chọn thông minh của các nhà sản xuất nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro từ các mối nguy cơ ô nhiễm ảnh hưởng đến sự an toàn, chất lượng sản phẩm, môi trường, sức khỏe, an toàn lao động và phúc lợi xã hội của người lao động trong sản xuất chăn nuôi, chế biến và xử lý sau chế biến. Mặt khác, khi áp dụng quy trình chăn nuôi tốt sẽ tạo ra một số lượng thực phẩm lớn có chất lượng, giá trị cao. Vì thế khi xuất khẩu các sản phẩm này sẽ thâm nhập sâu hơn vào thị trường các nước góp phần đạt được những mục tiêu về xuất khẩu của nước ta, tạo ra những nguồn tài chính cho đất nước.Đặc biệt, những biện pháp thực hành nông nghiệp tốt có thể giúp những quốc gia đang phát triển đối mặt với sự toàn cầu hóa mà không làm tổn hại đến mục tiêu phát triển bền vững của họ.

Theo: ThS. Đỗ Văn Hoan – Phó trưởng phòng Gia súc nhỏ và Gia súc nhỏ và Gia cầm, Cục Chăn nuôi

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *