Thông tin quản lý mã số vùng và đóng gói cho xuất khẩu được Cục Bảo vệ Thực vật cung cấp

Việc thiết lập và cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói đã đem lại những thành tựu đáng kể trong những năm gần đây, góp phần tăng cường danh tiếng của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế và thúc đẩy xuất khẩu.

Hôm 20/4 vừa qua, Cục Bảo vệ thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức hội nghị nhằm thông tin về quy định cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu.

Tại sự kiện này, đại diện của Cục Bảo vệ thực vật đã trình bày tình hình thực hiện công tác thiết lập và quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói trong thời gian qua. Đồng thời, họ hướng dẫn triển khai Văn bản số 1776/BNN-BVTV ngày 23/3/2023 và tập trung vào các điểm mới trong quy định về cấp và quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói. Bộ NN&PTNT đã quy định rõ trách nhiệm cho các sở NN&PTNT các tỉnh, thành phố và Cục Bảo vệ thực vật về việc quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu.

Hội nghị là dịp để các bên liên quan, bao gồm cơ quan chính sách, quản lý, các viện nghiên cứu, hiệp hội ngành nghề, cá nhân và đơn vị sản xuất, xuất khẩu, cùng nhau trao đổi, chia sẻ để nắm rõ quy định về cấp và quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu. Từ đó, các bên có thể thực hiện và tuân thủ quy định này hiệu quả, giúp dễ dàng theo dõi nguồn gốc sản phẩm. Mục tiêu cuối cùng là đảm bảo giảm thiểu rủi ro về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm và ngăn chặn các hành vi gian lận thương mại.

Việc thiết lập và cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói nông sản phục vụ xuất khẩu hiện đã trở thành yêu cầu bắt buộc của nhiều thị trường nhập khẩu và chuẩn mực quốc tế, nhằm đảm bảo tuân thủ quy định về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm và khả năng truy xuất nguồn gốc. Các thành tựu đã đạt được trong việc thiết lập và cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói đã góp phần quan trọng nâng cao uy tín của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế và tăng kim ngạch xuất khẩu. Điều này cũng đã thúc đẩy sự thay đổi trong phong cách canh tác, thúc đẩy sản xuất theo tiêu chuẩn và yêu cầu của thị trường, hướng dẫn người nông dân thực hiện sản xuất chuyên nghiệp hơn.

Hiện nay, trên toàn quốc đã có 6.439 vùng trồng tại 53/63 tỉnh, thành phố và 1.618 cơ sở đóng gói tại 33 tỉnh, thành phố được cấp mã số xuất khẩu cho 25 sản phẩm, bao gồm thanh long, nhãn, vải, xoài, chôm chôm, vú sữa, chanh, bưởi, măng cụt, dưa hấu, mít, chuối, thạch đen và khoai lang, tập trung xuất khẩu đến 11 thị trường: Trung Quốc, Hoa Kỳ, Australia, New Zealand, Hàn Quốc, Nhật Bản, EU, Thái Lan, UAE, Malaysia và Singapore.

Ông Hoàng Trung, Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật, đã nhấn mạnh rằng, công tác quản lý vùng trồng và cơ sở đóng gói xuất khẩu trong những năm qua đã cho thấy, mặc dù các nước nhập khẩu ngày càng áp đặt nhiều rào cản kỹ thuật, buộc Việt Nam phải tuân thủ, nhưng nhiều địa phương, tổ chức và cá nhân chỉ mới tập trung vào việc mở rộng diện tích vùng trồng và cơ sở đóng gói, trong khi chưa đủ quan tâm đến công tác kiểm tra, giám sát các vùng để đảm bảo tuân thủ yêu cầu của nước nhập khẩu. Điều này tạo ra nhiều thách thức cho việc xuất khẩu sản phẩm trồng trọt của Việt Nam, thậm chí có thể gây nguy cơ bị dừng xuất khẩu toàn ngành hàng.

Vì vậy, để đảm bảo tuân thủ đúng yêu cầu xuất khẩu và tăng cường uy tín cho nông sản Việt Nam, tất cả các bên liên quan trong chuỗi cung ứng cần thấu hiểu rõ quy định và chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cần thiết, đồng thời thực hiện quản lý chặt chẽ hơn vùng trồng và cơ sở đóng gói.

Để đạt được mục tiêu này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Văn bản hướng dẫn số 1776/BNN-BVTV nhằm phân cấp rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của từng bên.

Việc thực hiện Văn bản này sẽ giúp tăng tính minh bạch và trách nhiệm của các bên, giảm thiểu các hành vi không tuân thủ về kiểm dịch thực vật và an toàn thực phẩm, từ đó phòng chống hành vi gian lận thương mại và tạo điều kiện để truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Ông Hoàng Trung, Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật, cam kết Cục sẽ luôn đồng hành cùng các địa phương, đơn vị, tổ chức và cá nhân liên quan để hướng dẫn thực hiện Văn bản này một cách hiệu quả, nhằm tăng cường mức độ tuân thủ quy định của các nước nhập khẩu về kiểm dịch thực vật và vệ sinh an toàn thực phẩm, đồng thời góp phần nâng cao uy tín của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Việc thiết lập và cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói đã đem lại nhiều lợi ích quan trọng cho nông nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, để bảo đảm tiến bộ bền vững, cần phải duy trì sự chú trọng và nỗ lực liên tục trong công tác quản lý, giám sát, và đào tạo để tối ưu hóa tiềm năng và nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp của đất nước.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *